Đã là người lính sẵn sàng chấp nhận mọi sự hy sinh và gian khổ; đau thương và mất mát; cay đắng và thiệt thòi ! cố gắng vươn lên trong cuộc sống ! Cảm ơn các bạn đã ghé thăm blog của người lính
Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012
Tôi đi dự Hậu 1000 năm Thăng Long-Hà Nội !
Lễ Hội 1000 năm Thăng Long Hà Nội đã trôi qua được 15 ngày ! Lính tôi ngồi ở nhà một mình cảm thấy cũng buồn buồn, tủi tủi. Cái đêm 9/10 vợ chồng tôi cũng có ý định phải đi Thủ đô một chuyến xem sao, vì 1000 năm nữa mới lại có cái ngày hôm nay ! Các con tôi nó can ngăn:
- "Thôi ông bà đừng có phởn trí nữa, ở nhà mà xem ti vi cho chúng con được nhờ. Lên Hà Nội, lơ nga lơ ngơ như xe tơ bị rối, họ chen cho bẹp ruột, lại lạc đường thì chúng con không biết đường nào mà tìm trẻ lạc ! hi hi
". Ngồi ở nhà xem ti vi, nhưng trong lòng vẫn ấm ức và buồn man mác. Lính ngồi bàn với vợ: "Thế nào tôi với bà cũng sẽ lên Hà Nội một chuyến !"
Theo tiếng gọi thiêng liêng của thủ đô thân yêu, ngày 24/10 vợ chồng Lính già chúng tôi quyết định Lên đường về Thăng Long Hà Nội. Sau một đêm nghỉ ngơi, ăn chơi lấy sức, mới buổi sáng tinh mơ "hai đứa trẻ sống lâu năm" đã có mặt ở phủ Tây Hồ cầu mong Thánh Mẫu phù hộ độ trì cho sống thêm 1000 năm nữa để dự ngày lễ Kỷ niệm 2000 năm Thăng Long Hà Nội.
- "Thôi ông bà đừng có phởn trí nữa, ở nhà mà xem ti vi cho chúng con được nhờ. Lên Hà Nội, lơ nga lơ ngơ như xe tơ bị rối, họ chen cho bẹp ruột, lại lạc đường thì chúng con không biết đường nào mà tìm trẻ lạc ! hi hi
Theo tiếng gọi thiêng liêng của thủ đô thân yêu, ngày 24/10 vợ chồng Lính già chúng tôi quyết định Lên đường về Thăng Long Hà Nội. Sau một đêm nghỉ ngơi, ăn chơi lấy sức, mới buổi sáng tinh mơ "hai đứa trẻ sống lâu năm" đã có mặt ở phủ Tây Hồ cầu mong Thánh Mẫu phù hộ độ trì cho sống thêm 1000 năm nữa để dự ngày lễ Kỷ niệm 2000 năm Thăng Long Hà Nội.
Lên Hà Nội mà không thăm Lăng Bác, sân Ba Đình, nhà Bác Hồ, ao Hoàn Kiếm, chùa Một cẳng....thì coi như chưa đi Hà Nội
Đến gần trưa bụng dạ đã đói meo, đâu có ăn là chúng tôi xốc tới !
Đúng 11 giờ 30 chúng tôi đã được em gái và các anh chị Ở Hà Nội đón chúng thôi như là thượng khách !
Hai chị em lâu lắm mới được gặp nhau, vui mừng khôn xiết !
Anh TL cùng chung vui trong buổi gặp mặt.
Dự cuộc vui còn có anh Xuân Trà, ATM
Ốc và chị nhà Lính tâm tình to nhỏ !
Đây là bộ "Tứ nữ cướp cái ! "
Tình cảm quá !
Cuộc vui nào rồi cũng đến lúc phải chia tay ! Nhưng tình cảm chân tình, ấm cúng như anh chị em trong một gia đình không bao giờ có thể quên được.
Xa Hà Nội, xa Em gái và toàn thể các anh em hiện đang sinh sống ở Hà Nội, nhưng những tình cảm mộc mạc, chân tình không bao giờ phai nhạt trong tâm trí của vợ chồng lính già C120mm !
Chúc các anh, các em mạnh khoẻ, hạnh phúc và thành đạt ! Hẹn một ngày tái ngộ !
Nhớ lại một thời đã qua (phần 1 !
Trong những ngày này trên VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam đang chiếu bộ phim “Bí thư tỉnh uỷ”, trong tôi những kỷ niệm của một thời quá khứ lại ùa về. Có lẽ các bạn trẻ hiện nay xem phim không tránh khỏi những thắc mắc và hỏi tại sao lại như thế ? Sao lại như vậy ? Toàn những chuyện thật mà như là chuyện bịa. Thật trăm phần trăm đấy các bạn ạ, chẳng bịa một chút nào. Xem qua bộ phim, tôi bất chợt có ý định viết một số hồi cảm về chính bản thân mình được sống trong thời kỳ lịch sử gian khổ, hy sinh nhưng cũng đầy hào hùng, oanh liệt đó của Đất nước.
Tôi sinh ra và lớn lên tại một làng nhỏ bé nằm dọc theo con sông Đào chảy qua phía Bắc thành phố Nam Định, giáp với làng cụ Tú Xương (làng Vị Xuyên) có bà vợ “Quanh năm buôn bán ở Mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng…”.
Làng tôi ngày xưa có 80 gia đình, năm 1971 sau trận lụt một số gia đình chạy vào bên trong đê, hiện nay chỉ còn hơn 10 nóc nhà.
Cái bờ đê gắn liền bờ sông năm xưa, nơi tôi đi đánh dậm nay đã trở thành một con đường nhựa thẳng tắp chạy dọc theo phía Đông Nam thành phố.
Không biết có phải tại cái mạch đất hay không mà ở cái làng này ai cũng sinh nhiều con, nhiều thì từ 8 đến 10 đứa mà ít cũng 5 đến 7 đứa. Bố mẹ tôi sinh ra được 7 anh em, kém 2 chiến sĩ nữa là vừa tròn một tiểu đội. Gia đình tôi có 6 anh em trai và một em gái, bố tôi làm công nhân, mẹ làm ruộng. Sống ở cái thời điểm bao cấp ấy, con phải theo mẹ nên cuộc sống của gia đình tôi vất vả không biết đến chừng nào. Một gia đình có 8 miệng ăn mà chỉ có 2 lao động chính nên cơm chúng tôi ăn không đủ no, mặc cũng không đủ ấm. Sống qua thời tổ đổi công rồi bước sang hợp tác xã mỗi ngày mẹ tôi đi làm chỉ được có 10 đến 12 điểm, quy điểm ra thóc thì chỉ có vài lạng thóc cho một ngày công thôi. Sau mỗi đợt căn cứ vào số điểm của Mẹ khi nào nghe tiếng kẻng của hợp tác xã chia thóc hay chia khoai, ngô thì từng gia đình ra sân kho để nhận. Mỗi lần ra kho nhận thóc, gia đình người ta thì gánh lớn gánh bé, còn nhà mình có lao động đâu mà nhận nhiều. Chúng tôi còn nhỏ, chấp nhận cảnh rau cháo, nhưng chúng tôi rất thương yêu nhau, tích cực học tập, ngoài thời gian đi học đứa lớn làm việc lớn, đứa bé làm việc bé để giúp đỡ mẹ.
Năm học lớp 6 anh trai và tôi đã như một lao động chính trong gia đình, thay nhau giúp mẹ trồng vườn, chăn trâu, bắt tôm bắt cá để thêm thu nhập giúp mẹ mua lương thực trong lúc khó khăn. Bố tôi làm công nhân xa nhà, một tháng đôi ba lần về thăm mẹ con tôi. Buổi tối chúng tôi học bài đến khoảng 22 giờ, trước khi đi ngủ còn nhắc mẹ đánh thức để tôi dậy sớm đánh dậm kiếm tôm cá. Như thường lệ khoảng 02 giờ sáng là chúng tôi dậy, bắt đầu đánh dậm từ ngã 3 đền Cây đến hết cầu Treo thì cũng là lúc đài tiếng nói Việt Nam cất lên tiếng hát“giải phóng Điện Biên, bộ đội ta tiến quân trở về…” chúng tôi vội vã trở về nhà cho mẹ chuẩn bị đi chợ và chúng tôi đến trường.
Năm tháng trôi đi, anh em tôi cũng trưởng thành dần. Năm 1967, vì điều kiện gia đình vất vả nên anh cả học xong lớp 7 phải nghỉ để lao động giúp mẹ. Tôi tiếp tục bước vào cấp III. Trường cấp III nơi tôi học sơ tán cách xa thành phố khoảng 20 km nên chúng tôi phải ở trọ. Cứ chiều thứ bảy về nhà, chiều chủ nhật lại gánh gạo củi lên trường.
Trên chiến trường Miền Nam, cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968 đã giành được những thắng lợi to lớn, tiêu hao tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, buộc chúng phải ngồi vào đàm phán với ta ở hội nghị Pari. Tuy nhiên, đến cuối năm 1968 lực lượng của ta bị tổn thất rất nhiều, cuộc năm 1969 và năm 1970 ta phải tiếp tục củng cố, bổ sung lực lượng. Tháng 12 năm 1969 nghe tiếng gọi của Đảng, anh trai tôi lên đường nhập ngũ. Cái ngày anh trai tôi lên đường vào Nam chiến đấu tôi vẫn còn nhớ mãi, bố thì công tác xa không về được, nhà thì nghèo, bà và mẹ tôi thương anh tôi, đêm nào cũng khóc. Vì phải học xa nhà nên không tiễn anh được, anh tôi ra đi gia đình không có một người đưa tiễn. Bà và mẹ tôi thương anh, cứ tối đến là thắp hương trên bàn thờ cầu mong cho mọi điều tốt đẹp, bởi vì mọi người đều xác định đã ra đi là sẵn sàng chấp nhận sự hy sinh, hoặc nếu trở về cũng chẳng còn nguyên vẹn. Mỗi lần về qua nhà, biết bà nội và mẹ tôi buồn, thường nhắc nhở tôi tập trung học hành cho tốt để sau này trở thành người có ích cho xã hội.
(Còn nữa)
Nhớ lại một thời đã qua ! Phần 2
Nói về cái nghiệp học hành của tôi cũng lắm gian nan. Từ năm lớp 1 đến năm lớp 4, ngày xưa gọi là cấp 1 tôi học tại trường của xã. Gọi là trường học thôi, nhưng đâu có được học tập chung như các trường học bây giờ ! Nhà của Ban giám hiệu và khu tập thể của trường giành riêng cho những thày cô ở xa là những ngôi nhà tranh tre vách đất, các lớp học dựa vào những ngôi đình, ngôi chùa của địa phương. Do số lượng lớp có hạn nên học sinh phải học 3 ca: buổi sáng, ban trưa và buổi chiều.
Năm 1964, trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, Mỹ Nguỵ tiếp tục âm mưu phá hoại miền Bắc từ hình thức phá hoại bí mật sang chống phá bằng không quân và hải quân.
Ngày 2 tháng 8 năm 1964 chúng đã gây ra sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” để lấy cớ đánh phá miền Bắc Việt Nam. Bắt đầu từ đây miền Bắc đã chuyển từ thời bình sang thời chiến. Các cơ quan, xí nghiệp, trường học sơ tán. Những năm học cấp 2, cấp 3, chúng tôi phải sơ tán về học tại những địa điểm ở xa thành phố. Một tuần lễ, ngoài các buổi học, chúng tôi phải lao động xây dựng trường lớp. Bắt đầu vào năm học mới mỗi đứa phải góp 2 cây tre, 20 kg rơm để làm nhà, làm hầm kèo trú ẩn….Lớp học của chúng tôi là nhà âm, bằng tre nứa nửa nổi, nửa chìm; xung quanh lớp học đắp đất để chống bom, bên trên làm trần bằng rơm bện để chống bom bi; Từ lớp học có các cửa thông ra ngoài tới hệ thống giao thông hào và hầm kèo trú ẩn.
Trong quá trình đi học không được tụ tập đông, không được mặc áo sáng mầu, đầu phải đội mũ rơm…Có những hôm đang học thì máy bay đánh vào thành phố, tiếng bom nổ, tiếng pháo phòng không của ta bắn lên, chúng tôi phải cơ động vào hầm trú ẩn. Khổ nhất là những hôm trời mưa to, nước ngập các giao thông hào và hầm kèo, lại phải mang gầu tát nước, hơn nữa việc ra vào lớp bị bùn bẩn nhếch nhác. Thầy và trò nhà trường vừa dạy học, vừa tích cực chuẩn bị mọi mặt cho cuộc chiến đấu. Thực hiện lời Bác Hồ dạy “Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy thật tốt, học thật tốt”, với quyết tâm đánh thắng giặc trên mặt trận giảng dạy và học tập, các lớp học được phân tán về hầu hết các xã trong huyện và được nhân dân nhiệt tình giúp đỡ, che chở. Trong ký ức các thế hệ nhân dân khu vực vẫn khắc sâu hình ảnh những lớp học sơ tán ở các thôn xóm thuộc các xã Mỹ Tân, Mỹ Tiến, Mỹ Hưng, Lộc Vượng… Thầy trò vừa giảng dạy và học tập, vừa làm hầm, đào giao thông hào, sẵn sàng chiến đấu. Dưới bom đạn của giặc, thầy trò vẫn hăng say, miệt mài dạy và học.
(lớp học dưới hầm )
Có thể nói những ngày tiếp theo đó là những ngày long đong nhất trong cuộc đời học trò của thế hệ chúng tôi. Địa điểm học cứ vòng quanh như đèn cù khắp các thôn xã xung quanh trường như Hồng Phong, Đoàn kết, Tân Tiến, Trung Trại, khi chúng tôi học cấp II; Nguyễn Huệ, Lăng Xá, La Đồng, La Hóp khi học cấp III… Có thời gian vì ban ngày báo động máy bay Mỹ quá nhiều không thể học được, chúng tôi phải chuyển sang học vào buổi tối. Thế là hành trang của chúng tôi mỗi khi đến lớp lại có thêm một chiếc đèn dầu. Trên bảng đen treo một chiếc đèn bão. Nhưng tất cả các ngọn đèn đều phải che bớt lại để không bị lộ sáng ra ngoài, chỉ để vừa đủ ánh sáng chép bài. Vậy mà thầy trò vẫn cứ vui vẻ dạy và học… Suốt cả năm học lớp 9 và lớp 10 chúng tôi phải học trong cảnh dã chiến như thế bởi Nam Định là một trong những thành phố trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ. Vì phải học xa nhà nên cứ chiều thứ 7 là chúng tôi về nhà lấy gạo, củi. Trong những năm tháng khó khăn đó, tôi đi học là được ưu ái rất nhiều, khẩu phần ăn của tôi trong tuần là 14 miệng bò gạo độn 50% ngô mảnh, chai 65 nước mắm pha loãng 30%; còn rau và thức ăn thì tự cải thiện. Cứ mỗi buổi sáng lên lớp học, chiều về nhà tự học là chúng tôi mỗi đứa một chiếc cần câu ra cánh đồng, đến các ruộng lúa để câu cá rô về kho; còn rau thì đi các bờ ruộng, các lối đi để hái rau dền cơm, rau xam, rau muối ở các ruộng rau khoai lang của hợp tác xã. Ở nhà tôi biết mẹ và anh em tôi phải chịu khổ và vất vả hơn tôi nhiều, gọi là khoai độn gạo thì mới đúng vì gạo thì ít mà độn khoai thì nhiều, có thể một củ khoai cõng chục hạt gạo; mẹ và các em đã giành nhiều phần ưu ái cho tôi. Nên các ngày thứ 7, chủ nhật tôi cố gắng giúp mẹ và các em giải quyết công việc gia đình. Công lao của cha mẹ thật là như biển rộng bao la, không gì có thể so sánh được. Phải nói rằng tình thương của mẹ, cùng với những hạt gạo, củ khoai đã thương mà nuôi lớn chúng tôi nên người. Thế rồi năm tháng cứ trôi đi, tôi cũng đã học hết chương trình cấp III.
Do đất nước có chiến tranh, thế hệ học sinh, sinh viên chúng tôi ngày ấy rất nhiều người đã phải xếp bút nghiên ra trận. Tôi cũng là một trong những số đó. Tôi vẫn còn nhớ như in cái buổi chiều ngày 25 tháng 4 năm 1970 anh em chúng tôi chính thức nhập ngũ vào Sư đoàn 320A (đoàn Đồng Bằng). Cả trường tôi đợt này đi đông lắm, hơn 200 người, riêng lớp tôi 20 người. Bạn bè đưa tiễn chúng tôi rất đông với tình cảm người đi, kẻ ở thật là lưu luyến.
Đúng 17 giờ ngày 25 tháng 4 năm 1970, chuyến tàu hỏa chở cánh lính học sinh chúng tôi rời ga Nam Định xuôi về phía Nam…Anh em chúng tôi đứng ở lan can phía đuôi toa tầu, nghe chiếc đầu máy hơi nước già cỗi nặng nề lôi một dãy toa dài phía sau, trên khuôn mặt mỗi người đều hiện lên nột nỗi buồn man mác. Khoảng 5 giờ sáng ngày 26 tháng 4, anh em chúng tôi đã có mặt tại ga Minh Khôi, tiếp tục đi bộ khoảng hơn 10 cây số nữa vào đến nông trường Yên Mỹ thuộc xã Thăng Long, Thăng Thọ, huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá. Doanh trại đơn vị chúng tôi là một dãy nhà lá làm trên một sườn đồi; chúng tôi huấn luyện ở đây 1 tháng, sau khi bắn đạn thật xong bài 1 bắn mục tiêu cố định chúng tôi được điều về đơn vị chiến đấu gấp. Tôi được điều về Trung đội trực thuộc của Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 64, đơn vị đóng quân tại xã Cát Sơn, huyện Tĩnh Gia. Khi về đến đơn vị chúng tôi khẩn trương làm công tác chuẩn bị cho hành quân nhận nhiệm vụ. Anh em trong tiểu đội nhận quân trang bổ sung, gạo, trang bị vũ khí, lương thực thực phẩm. Khí thế của đơn vị rất khẩn trương. Nhân dân và các đoàn thể địa phương biết chúng tôi chuẩn bị lên đường đến thăm hỏi và động viên, tình cảm quân với dân thật là thắm thiết.
Ngày 12 tháng 6 năm 1970 đơn vị chúng tôi chính thức nhận nhiệm vụ hành quân đi chiến trường. Xe ô tô chở chúng tôi theo các trạm giao liên của đường Trường Sơn, qua dốc Bò Lăn, các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, vào ngã 3 Thạch Bàn lên làng Ho rồi vào đến đồi dốc Khỉ thuộc xã Kim Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình. Trong những năm 1965-1972, đó là những ngày tháng ác liệt nhất. Có giai đoạn máy bay Mỹ đánh 101 ngày đêm liên tục vào làng Ho để hòng đốt cháy kho chứa gạo, súng đạn và bộ đội của Binh trạm 27 của Đoàn 559. Làng Ho trở thành tọa độ lửa, và là tuyến hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam.
Khu vực này chủ yếu là nơi bộ đội và thanh niên xung phong đóng quân và một số hộ dân đồng bào dân tộc Vân Kiều sinh sống. Lúc đầu, bà con dân tộc cũng không biết bộ đội, TNXP là ai. Song ngày một ngày hai, bà con dân tộc nơi đây đã sát cánh chung sức cùng với bộ đội để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Dân bản phân công thanh niên khỏe mạnh ra giúp bộ đội làm đường, dựng lán, vận chuyển gạo, đạn dược… Bộ đội dạy cho bà con dân bản học chữ, tập hát những bài ca cách mạng. Dân bản, bộ đội, TNXP đã gắn bó keo sơn để rồi chính họ làm nên những nhánh đường Trường Sơn huyền thoại.
Đơn vị tôi có nhiệm vụ kết hợp cùng với các đơn vị thanh niên xung phong (Tiểu đoàn TNXP 119, với 3 đại đội gồm C751, 752 và 759, do chị Nguyễn Thị Kim Củng làm tiểu đoàn trưởng) mở rộng Đường 16 đoạn từ Làng Ho qua dốc Khỉ vào ngã 3 Dân Chủ, đến Bắc sông Băng Hiêng, có chiều dài khoảng 50 km từ đường xe thồ thành đường cho xe cơ giới đi được. Song song với việc mở đường, chúng tôi còn sẵn sàng ứng cứu giải toả đường khi bị tắc, cứu hàng hoá khi bị máy bay địch đánh phá. Ban ngày Mỗi khi có tiếng máy bay OV-10 bay qua, chúng bắn pháo khói chỉ điểm cho lũ máy bay phản lực ném bom. Ban đêm chúng sử dụng máy bay C130 có hệ thống bắn ban đêm tiêu diệt các xe ô tô chở hàng của ta. Các xe chở hàng chạy vào ban đêm, từ 18 giờ đến 5 giờ sáng ngày hôm sau.Chúng tôi thay nhau trực cả đêm, ngồi trực nhìn những đoàn xe với hệ thống đèn gầm lầm lũi chở hàng vào chiến trường, chúng tôi đếm từng xe vào, đợi cho đến sáng hôm sau xem số xe có chạy ra đủ không ? Mọi người chỉ mong rằng đêm hôm đó sẽ không có chuyện gì xảy ra, cho đỡ vất vả.
Trong những năm xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, làng Ho chính là địa chỉ đỏ của Bộ đội Trường Sơn và Thanh niên xung phong (TNXP). Chính nơi này, Quân ủy Trung ương quyết định mở đường cơ giới Thạch Bàn, làng Ho, làng Ho-Khe Sanh để chuẩn bị cho chiến dịch Khe Sanh và Mậu Thân năm 1968. Đây cũng chính là điểm tập kết lực lượng, quân lương chuẩn bị cho chiến dịch Đường 9 Nam Lào năm 1971…Sau 35 năm ngày đất nước thống nhất , tôi lại có dịp quay trở lại nơi chiến trường xưa. Bây giờ đây Làng Ho đã có nhiều sự thay đổi. Đồng bào các dân tộc ở làng Ho đang nắm chặt tay nhau xây dựng bản làng giàu, đẹp bên đường Hồ Chí Minh đầy sức sống mới.
Công việc của chúng tôi cứ như vậy trong suốt thời gian dài đến tháng 9 năm 1970 thì toàn bộ tuyến đường 16 cơ bản đã hoàn thành, chúng tôi nhận được lệnh hành quân ra Quảng Trạch để sẵn sàng đánh địch khi chúng liều lĩnh đổ bộ ra nam Quân khu 4 và đường 9 Nam Lào. Một nỗi buồn vô hạn, trong mấy tháng mở đường dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù ấy, Tiểu đội tôi có 9 người, đã có 2 người hy sinh phải nằm lại cánh rừng già bên cạnh làng Ho, 3 người bị thương nặng phải trở về tuyến sau đến nay tôi vẫn chưa một lần gặp lại.
(Còn nữa)
Nhớ lại một thời đã qua ! Phần 3
Sau khi mải miết với công việc mở đường 16 từ đường cho xe đạp thồ, trở thành đường cơ giới có thể cơ động tốt; đầu tháng 9 năm 1970 đơn vị chúng tôi được lệnh cơ động ra huyện Quảng Trạch với nhiệm vụ chuẩn bị phương án, tổ chức luyện tập sẵn sàng đánh địch nếu chúng liều lĩnh đổ bộ ra Nam khu 4. Ban đầu chúng tôi về ở thôn Vực Tròn xã Quảng Hợp, sau đó chúng tôi cơ động xuống một số xã nằm sát ven biển.
Hè năm 1970 quả là một mùa hè nghiệt ngã. Nắng và gió Lào như muốn thiêu đốt cả một vùng cát trắng ven biển của huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Những triền cát dài, những đồi cát tựa hồ như ai bác lên bếp mà rang. Nhân dân trong vùng một phần sơ tán ra Bắc, cái trống trải càng tăng thêm cảm giác khô, khát. Đơn vị chúng tôi ở nhờ nhà dân thuộc thôn Pháp Kệ, xã Quảng Phương. Tại sao lại gọi là Pháp Kệ, nó cũng có lịch sử của nó. Theo người dân của làng kể lại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, các làng xung quanh đều bị địch càn quét, đánh phá ác liệt, nhưng chỉ riêng cái làng nhỏ bé này chúng không hề đụng tới. Cái tên thôn Pháp Kệ cũng ra đời từ đó. Địa bàn hoạt động của chúng tôi rất rộng, gồm các xã Quảng Thạch, Quảng Phương, Quảng Châu, Quảng Thạch… hàng ngày chúng tôi xây dựng hệ thống công sự, trận địa, làm hầm kèo trên các bãi cát chạy dài theo bờ biển; tổ chức các vọng gác, vọng quan sát, cảnh giới, luyện tập các phương án chiến đấu có thể xảy ra khi địch liều lĩnh đổ bộ bằng đường biển vào. Chúng tôi hầu như là thổ công ở đây; quen cả với hạt gạo, củ khoai, củ sắn của bà con nông dân nơi đây.
Phải nói rằng công tác chuẩn bị cho phương án đánh địch đổ bộ ra nam - bắc sông Gianh được chúng tôi luyện tập khá bài bản và chu tất. Mọi công việc đang diễn ra theo kế hoạch, thì gần Tết nguyên đán Tân Hợi (1971), đơn vị chúng tôi lại nhận được lệnh hành quân vào chiến trường miền Đông Nam Bộ.
Nhận được mệnh lệnh chiến đấu thay đổi so với kế hoạch, nhưng anh em chúng tôi không lấy gì làm bất ngờ, vì chúng tôi là lính của một sư đoàn chủ lực cơ động của Bộ. Mọi người tích cực làm công tác chuẩn bị cho cuộc hành quân chiến đấu đường dài. Chúng tôi tiếp nhận quân trang nhẹ để chuẩn bị đi b dài, đổi quân phục Tô Châu lấy quân phục vải phin pha ni lon, võng dù, màn tuyn, tăng vi ni lông. Mỗi tiểu đội chỉ mang một khẩu súng kèm theo 120 viên đạn để bảo vệ trên dọc đường. Riêng các loại vũ khí hoả lực chúng tôi không phải mang theo mà vào chiến trường tiếp nhận.
Trong cuộc đời binh nghiệp hẳn rằng không ai không một lần được ăn tết kiểu Quang Trung vào năm Kỷ Dậu (1789). Với Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 64 chúng tôi, Tết Tân Hợi (1971) cũng được xem như là Tết Quang Trung. Chấp hành mệnh lệnh của trên, toàn đơn vị tổ chức ăn tết sớm. Mặc dù thời gian này địch tạm ngừng chiến tranh phá hoại miền Bắc, làng Pháp Kệ nơi chúng tôi đóng quân được hưởng không khí thanh bình; nhưng đất nước còn chiến tranh, từng hạt thóc, cân ngô, củ khoai đều được người dân hậu phương chia đôi, xẻ nửa, dành chi viện cho tiền tuyến, nên tổ chức ăn tết ngày ấy cũng chỉ nặng về tinh thần. “Cỗ tết” cũng chỉ “tươi” hơn ngày thường một chút. Tiêu chuẩn ngày thường ăn 6 hào 80 xu, nay tăng lên ngày 8 hào, rồi 1 đồng 02 hào người một ngày.
Biết chúng tôi sắp đi chiến đấu, mặc dù cảnh nhà rất nghèo, nhưng gia đình nơi chúng tôi trú quân cũng cố gắng tổ chức một bữa cơm thanh đạm để chia tay chúng tôi, tình nghĩa quân dân thật đậm đà, sâu lắng.
Đầu tháng 01 năm 1971 chúng tôi bắt đầu hành quân bộ theo đường dây 559 xuống xã Quảng Liên để cơ động bằng ca nô theo dòng sông Gianh vào Cự Nẫm. Gọi là ca nô, nhưng thực chất đơn vị chúng tôi đi bằng xà lan có tầu kéo. Mỗi một đoàn xà lan như vậy gồm có 12 chiếc, mỗi chiếc chở được khoảng 1 Trung đội. Tiểu đoàn 7 chúng tôi cơ động bằng 3 đoàn xà lan. Sau một đêm cơ động bằng đường thuỷ, gần sáng chúng tôi đến xã Văn Hoá thuộc huyện Tuyên Hoá, một xã nhỏ nằm ven bờ sông Gianh. Gọi là xã Văn Hoá, bởi vì ở đây người dân có truyền thống hiếu học và có nếp sống văn hoá rất tốt. Phần lớn các cháu ở đây học hết cấp III, có nhiều con em đỗ đại học và thành đạt trong xã hội, xã có rất nhiều người làm nghề giáo. Đặc biệt, cuộc sống sinh hoạt cộng đồng ở đây rất có văn hoá. Chúng tôi tạm dừng chân ở đây 5 ngày, được sống với bà con ở đây chúng tôi cảm thấy ấm cúng như ở gia đình mình vậy. Biết có bộ đội đến đóng quân trong xã, bà con tạo điều kiện bố trí cho chúng tôi chỗ ăn ở sinh hoạt rất thuận lợi. Về phía đơn vị, chúng tôi tiến hành làm tốt công tác dân vận, như tổng vệ sinh đường làng ngõ xóm sạch sẽ; củng cố hệ thống công trình vệ sinh, nhà tắm; hàng ngày gánh nước, giúp việc các gia đình, cắt tóc cho các cháu. Cuộc sống của nhân dân rất khó khăn, bữa cơm chủ yếu là khoai và sắn khô; Đến bữa chúng tôi chủ động lấy cơm về ăn cùng với gia đình cho vui; Tình cảm giữa bộ đội với nhân dân thật là vui vẻ. Tôi vẫn còn nhớ, xã Văn Hoá nằm bên bờ sông Gianh, ở đây trồng rất nhiều cây ăn quả. Có thể nói là đi ra khỏi nhà là cụng đầu vào cam và bưởi. Mỗi bữa gia đình lại bứt cam, bứt bưởi mời chúng tôi. Thấm thoát rồi thời gian cũng trôi đi rất nhanh, sau 5 ngày dừng chân đơn vị chúng tôi lại nhận lệnh hành quân tiếp. Thời gian ra đi bao giờ cũng bất ngờ đến bản thân chúng tôi cũng không thể biết trước được, chính vì thế giữa gia đình với chúng tôi không thể tổ chức chia tay. Buổi tối hôm đó sau khi ăn cơm xong, đơn vị chúng tôi tổ chức báo động hành quân di chuyển. Như những buổi khác, sau khi báo động hành quân khoảng 2 -3 km chúng tôi lại quay về vị trí các gia đình để nghỉ, nhưng lần này chúng tôi đi thật, không quay trở lại. Chúng tôi hành quân khoảng 1 tiếng đồng hồ theo dọc bờ sông Gianh đến một vị trí hai bên bờ sông là đồi núi xen kẽ các bãi đất, ở đó các đoàn xà lan đã chờ sẵn, đơn vị tổ chức sắp xếp đội hình và đêm ấy chúng tôi cơ động vào Cự Nẫm. Ngồi dưới ca nô, nghe tiếng sóng nước vỗ nhẹ, tiếng máy nổ êm êm, chúng tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Đến khoảng 5 giờ sáng ngày hôm sau chúng tôi đã đặt chân lên mảnh đất xã Cự Nẫm thuộc huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình.
Cự Nẫm luôn là nỗi ám ảnh của ai mỗi khi vào Nam hay ra Bắc phải qua đây, một nơi bị bom Mỹ đánh phá vô cùng ác liệt. Đó còn là nơi dừng chân của hầu hết những đoàn quân khỏe mạnh từ miền Bắc vào và thương bệnh binh từ chiến trường miền Nam ra.
Suốt từ năm 1966 đến đầu năm 1975, hầu như ngày nào cũng có những đoàn quân đi qua vùng đất này. Cứ chiều chạng vạng, theo đường 15 và tỉnh lộ 2, quân từ Hà Tĩnh, Tuyên Hóa, Minh Hòa đổ về vùng Cự Nẫm. Việc đầu tiên là Binh trạm giao liên đóng ở đây chia quân để bộ đội ở tạm trong các nhà dân. Hôm nào quân đông quá, nhà dân không đủ chỗ thì đóng trong những khu rừng ven làng. Tờ mờ sáng hôm sau, cả vùng đã rì rào. Bộ đội tập trung, nhận đơn vị cùng quân tư trang và bắt đầu hành quân, thực sự đi vào chiến trường... Suốt 9 năm trời, ngày nào, đêm nào cũng vậy. Và rồi cái vùng đất này được nhiều người ví von là “làng qua đêm” hay “làng một đêm” của Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ.
Bộ đội từ Bắc vào sau khi tập kết ở đây được chia thành 2 ngả để vào chiến trường. Một hướng đi theo đường 15 và đường mòn Hồ Chí Minh phía đông dãy Trường Sơn; hướng thứ hai đi ngược theo đường 20 Quyết Thắng qua Lào, sau đó hành quân theo đường mòn phía tây dãy Trường Sơn.
Suốt từ năm 1966 đến đầu năm 1975, hầu như ngày nào cũng có những đoàn quân đi qua vùng đất này. Cứ chiều chạng vạng, theo đường 15 và tỉnh lộ 2, quân từ Hà Tĩnh, Tuyên Hóa, Minh Hòa đổ về vùng Cự Nẫm. Việc đầu tiên là Binh trạm giao liên đóng ở đây chia quân để bộ đội ở tạm trong các nhà dân. Hôm nào quân đông quá, nhà dân không đủ chỗ thì đóng trong những khu rừng ven làng. Tờ mờ sáng hôm sau, cả vùng đã rì rào. Bộ đội tập trung, nhận đơn vị cùng quân tư trang và bắt đầu hành quân, thực sự đi vào chiến trường... Suốt 9 năm trời, ngày nào, đêm nào cũng vậy. Và rồi cái vùng đất này được nhiều người ví von là “làng qua đêm” hay “làng một đêm” của Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ.
Bộ đội từ Bắc vào sau khi tập kết ở đây được chia thành 2 ngả để vào chiến trường. Một hướng đi theo đường 15 và đường mòn Hồ Chí Minh phía đông dãy Trường Sơn; hướng thứ hai đi ngược theo đường 20 Quyết Thắng qua Lào, sau đó hành quân theo đường mòn phía tây dãy Trường Sơn.
Ngã ba Cự Nẫm ngày đó là một vị trí chiến lược trọng điểm mà bom Mỹ tập trung đánh phá. Nó là giao điểm của đường 15, tỉnh lộ 2 và đường từ phà sông Gianh vượt qua núi Ba Trại lên. Vừa là tuyến vận tải cơ giới vừa là điểm tập trung chuyển quân, vì thế nên Mỹ tập trung đánh phá rất ác liệt. Bom trên trời ném xuống, Pháo hạm từ biển bắn vào. Không có chỗ nào lại không có hố bom, hố đạn. Không chỉ những đoàn bộ đội vào Nam mới ghé lại đây.
(Ngã ba Cự Nẫm)
Tất cả thương bệnh binh từ chiến trường, trước khi chuyển ra miền Bắc cũng đều dừng chân trên vùng đất này. Mặc dù có một trạm xá quân đội ở thôn Khương Sơn, nhưng phần lớn thương bệnh binh khi tới đây đều được người dân chăm sóc hết sức tận tình.
Chiến tranh đã đi xa. Về Cự Nẫm bây giờ khó mà nhận ra dấu vết của một thời đạn bom ác liệt. Ngày đó, cái vùng đất rộng chưa đến 3.500 ha này có tới 315 người dân thường bị chết và không ngôi nhà nào là không từng bị cháy, sập... vì bom đạn Mỹ. Giờ đây, những đồi thông đã mọc xanh trên vùng đất bị cày nát vì bom. Vết thương chiến tranh đã liền da, nhưng ký ức về những ngày tháng khó khăn ác liệt ở vùng đất này vẫn không hề phai nhòa trong tâm khảm của phần lớn người dân ở đây. Ngày đó, bộ đội đến là dân nhường nhà. Có cái gì ăn ngon là dân mời. Mà cũng chẳng có gì nhiều cả. Toàn rau cỏ cả thôi. Đêm bom Mỹ đánh thì lại nhường hầm. Từ Cự Nẫm chúng tôi hành quân theo đường tây Trường Sơn sang Lào. Cứ như vậy, ngày đi, đêm nghỉ tại các Binh trạm trong rừng. Chúng tôi cơ động 5 ngày thì được nghỉ 1 ngày để tắm giặt và nhận lương thực thực phẩm bổ sung. Đón cái tên âm lịch trên đường Trường Sơn, tiêu chuẩn của chúng tôi mỗi đứa được 5 điếu thuốc lá Điện Biên đầu lọc và 3 lạng kẹo Hải Châu, 1/2 gói thuốc lào Vĩnh Bảo. Anh em ngồi quây quần bên nhau, mở đài nghe chúc tết đêm giao thừa. Không hiểu tại sao cái lúc đó đứa nào cũng mềm lòng, ngồi nghĩ về gia đình, quê hương, bạn bè và nhớ nhà đến thế.
Ngày 31 tháng 1 năm 1971, khi chúng tôi hành quân đến Binh Trạm 13 thuộc tỉnh Khăm Muộn thì đơn vị lại nhận được lệnh cơ động về khu vực La Tương-Bản Đông chuẩn bị đánh địch cơ động theo đường số 9 nhằm đánh phá cơ sở kho tang vật chất hậu cần kỹ thuật của ta, cắt đứt đường tiếp viện cho chiến trường miền Nam. Đang cơ động trên đường dây 559, giờ đây chuyển sang hoạt động ở vùng địa hình mới mẻ, chưa quen thuộc nên đơn vị chúng tôi phải nhờ giao liên dẫn đường, mặt khác có chỗ phải tự trinh sát tìm đường mà đi. Đến ngày 6 tháng 2 đơn vị đã đến vị trí tập kết theo quy định làm công tác chuẩn bị chiến đấu. Chúng tôi tập trung xây dựng “Kiềng” (nơi Hậu cứ, để ba lô, quân tư trang và nghỉ ngơi sau mỗi trận chiến đấu trở về). Mỗi tổ 3 người xây dựng một hầm kèo, có hệ thống giao thông hào và các hố chiến đấu. Trong quá trình đào phải đảm bảo bí mật, ngụy trang kín đáo chống máy bay trinh sát và thám báo của địch không phát hiện được.
Ngày 8 tháng 2, khi chúng tôi đang triển khai thế trận đánh địch thì quân Nguỵ Sài Gòn được không quân và pháo binh yểm trợ tổ chức cuộc hành quân mang tên "Lam Sơn-719" vượt qua biên giới Việt – Lào, tiến theo đường số 9, phối hợp với lực lượng đổ bộ đường không bằng máy bay lên thẳng đánh chiếm Bản Đông. Chúng sử dụng lữ đoàn dù 3 đổ bộ đường không đánh chiếm các điểm cao 456, 655 và đồi Không tên dọc 2 bên bắc và nam đường số 9 với hy vọng khống chế hoàn toàn đường 16A, ngăn chặn lực lượng ta từ phía Bắc, theo con đường này phát triển xuống Bản Đông.
Tác chiến trong đội hình chung của toàn chiến dịch, Trung đoàn 64 khẩn trương bước vào chiến đấu. Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9 cùng các phân đội hoả lực triển khai đánh địch ở căn cứ 31. Tiểu đoàn 7 chúng tôi có nhiệm vụ chốt chặn địch trên đường 16A, cách Bản Đông khoảng 6 km về phía bắc, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9 tiến công tiêu diệt quân địch.
Chúng tôi phải tổ chức đào công sự, hệ thống giao thông hào, hầm kèo tạo nên một trận địa chốt vô cùng vững chắc. Tổ chức đánh lui các đợt tiến công của địch, kiên quyết ngăn chặn không cho địch cơ động ứng cứu cho quân địch trên cao điểm 456, đồi không tên, và căn cứ 31.
Từ ngày 10 tháng 2 đến ngày 25 tháng 2 Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 9 lần lượt tiêu diệt quân địch trên các điểm cao không tên, căn cứ 31 và điểm cao 500. Mất điểm cao 500 và căn cứ 31 địch ở khu vực Bản Đông bị uy hiếp mạnh. Đến ngày 13 tháng 3 năm 1971, trước thất bại nặng nề địch bắt đầu rút chạy, chúng tôi lại chuyển sang truy kích địch. Chứng kiến cảnh xe cộ và binh lính địch nháo nhào trút bỏ vũ khí trang bị tháo chạy, đặc biệt là cảnh binh lính địch bu bám máy bay trực thăng, tìm lối thoát thân mới thấy sự thảm bại của cuộc hành binh “Lam sơn 719”. Ngày 23 tháng 3, chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào kết thúc.
Chiến dịch kết thúc, cũng là lúc từng trận gió Lào đầu mùa quất ràn rạt trên vùng núi đồi bắc Quảng Trị. Dư âm của một trận chiến đấu khốc liệt, những cơn gió lào như lửa táp…Tất cả tạo nên một mùa hè khét cháy ở nơi đây. Như thường lệ, sau những chiến dịch, sau một mùa khô chiến đấu liên tục, các đơn vị “ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam” lại lùi về gậu phương. Trung tuần tháng 5 năm 1971, trong đội hình chiến đấu của Trung đoàn Tiểu đoàn 7 chúng tôi cơ động ra Kỳ Anh Hà Tĩnh. Tại đây Tiểu đoàn vừa củng cố tổ chức lực lượng, vừa tiến hành tổng kết nhiệm vụ chiến đấu trong chiến dịch Đường 9-Nam Lào.
Về phần mình, qua mỗi trận đánh, tôi cảm thấy mình trưởng thành lên nhiều. Thực tế chiến trường khốc liệt là trường học lớn. Mỗi khó khăn thử thách mà ta vượt qua được, có giá trị hơn nhiều lần những điều ở sách vở. Dĩ nhiên có những bài học kinh nghiệm quý giá có tính lý luận kinh điển cũng đã được đúc kết bằng công sức, máu xương của biết bao cán bộ, chiến sĩ trên chiến trường.
Được tham gia chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào là một điều vinh dự của thế hệ tuổi trẻ chúng tôi thời bấy giờ. Đường 9-Nam Lào lại gắn bó với tôi như máu thịt của một thời trai trẻ. Tất cả đã trở thành kỷ niệm sâu đậm, khó có thể phai mờ.
Hơn 30 năm kể từ ngày ta đại thắng trong chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào, tôi đã nhiều lần trở lại vùng đất này. Mỗi lần về lại chiến trường xưa là thêm một lần biết bao cảm xúc mới, cũ đan cài. Rạo rực, tin yêu bởi đất và người nơi đây đang hồi sinh, thay da đổi thịt từng ngày; lại nghĩ lại những ngày tháng trèo đèo, lội suối, băng rừng vào xây dựng trận địa, và thật ngại ngùng đau đớn khi đưa đồng đội bị thương về tuyến sau; rồi ngậm ngùi khi nghĩ về những đồng chí, đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại nơi sườn đồi, bìa rừng khuất nẻo. Chính tại mảnh đất nơi đây, người anh cả, người tiểu đội trưởng của tôi Lê Văn Lạc quê Xuân Bầu-Hoà Tiến- Việt Yên Hà Bắc (nay là Bắc Giang); các anh Nguyễn Thọ Quyết, Chu Triệu Yên quê Dục Tú-Đông Anh Hà Nội cùng tiểu đội đã nằm lại vĩnh viễn trên mảnh đất này. Máu xương đồng đội tôi tôi đã hoà vào đất đai, cỏ cây; để đất nước có được cuộc sống thanh bình hôm nay.
Với chiến dịch phản công mùa xuân năm ấy, đã làm thất bại hoàn toàn chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và “Lào hoá chiến tranh”; đồng thời tuyến đường Trường Sơn không những không bị chặt đứt, mà ngày càng phát triển, thành một mạng lưới giao thông như “trận đồ bát quái”, hoàn thành sứ mệnh lịch sử cầu nối chiến lược giữa hậu phương lớn với tiền tuyến lớn. Trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, đường Trường Sơn đã được đầu tư nâng cấp thành sa lộ Bắc Nam, đường Hồ Chí Minh thời công nghiệp hoá, từ miền tây Quảng Bình, vượt cầu Đăk Rông vào A Lưới, Thạch Mỹ…đường như dải lụa mềm vắt qua bao nhiêu triền núi, đi giữa đại ngàn Trường Sơn…cảm giác xúc động bồi hồi dâng ngập hồn tôi.
(Đường Trường Sơn năm xưa)
(Đường Hồ Chí Minh ngày nay)
(Cầu treo Đak Rông trên đường Hồ Chí Minh)
Một chuyến hành hương về chiến trường xưa với bao suy nghĩ, cảm xúc về quá khứ, hiện tại và tương lai đan xen. Chúng ta có thể khảng định rằng:
Lịch sử không chỉ là quá khứ. Lịch sử đúng là dòng chảy vĩnh hằng, liên tục nối quá khứ với hiện tại và tương lai !
(còn nữa)
Kỷ niệm 66 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam !
Nhân dịp kỷ niệm 66 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 21 năm ngày Hội Quốc phòng toàn dân, trong mỗi chúng ta không thể không bồi hồi súc động nghĩ về những năm tháng chiến tranh ác liệt. Tự hào với truyền thống chiến đấu và chiến thắng oanh liệt của Quân đội nhân dân Việt Nam. C120mm tôi có đôi lời cùng chia sẻ với các bạn nhân ngày hội lớn này:
Trong Chính cương vắn tắt, Luận cương Chính trị tháng 10/1930, Đảng ta đã khẳng định con đường giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc phải tổ chức ra quân đội công nông để giành chính quyền và giữ chính quyền. Vì vậy, ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các tổ chức vũ trang lần lượt được hình thành là Đội tự vệ đỏ (xích đỏ) trong cao trào Xô viết - Nghệ Tĩnh và cao trào cách mạng (1930 – 1931). Những năm 1940 - 1945, các đội du kích Bắc Sơn (Lạng Sơn), du kích Nam Kỳ, đội du kích Ba Tơ (Trung Kỳ), đội du kích Pắc Bó (Cao Bằng), Cứu Quốc Dân được hình thành. Sự phát triển mạnh mẽ, rộng khắp của phong trào đấu tranh cách mạng đòi hỏi cách mạng Việt Nam lúc này phải có một đội quân chủ lực thống nhất, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giải phóng dân tộc.
Theo Chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập. Tham dự Lễ tuyên thệ thành lập Đội Tuyên truyền giải phóng quân tại khu rừng giữa tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám (nay thuộc tỉnh Cao Bằng) có 34 chiến sĩ, được chia thành 03 tiểu đội. Đồng chí Võ Nguyên Giáp chủ trì buổi thành lập và thay mặt Đoàn thể đọc diễn văn tuyên bố thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Đồng chí Hoàng Sâm được cử làm Đội trưởng. Đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên. Đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách công tác kế hoạch – tình báo.
Thực hiện lời dạy của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc: “Trong một tháng phải có hoạt động, trận đầu nhất định phải thắng”, ngày 25/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân tiến công đồn Phai Khắt; ngày 26/12/1944 tiến công đồn Nà Ngần. Cả hai trận đánh đầu tiên, Quân đội ta đều giành thắng lợi, tiêu diệt và bắt sống nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng của địch mở ra truyền thống quyết chiến, quyết thắng, biết đánh, biết thắng kẻ thù xâm lược của Quân đội ta. Tháng 3/1945, Thường vụ Trung ương họp và ra chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4/1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định thống nhất lực lượng vũ trang cả nước (Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc dân…) thành Việt Nam giải phóng quân; đẩy mạnh tuyên truyền xung phong có vũ trang phá kho thóc của Nhật để cứu đói cho nhân dân; xây dựng các đội tự vệ vũ trang, du kích cứu quốc; phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa cách mạng. Từ tháng 4/1945, cao trào kháng Nhật cứu nước, phong trào vũ trang khởi nghĩa, khởi nghĩa từng phần đã giành được thắng lợi ở nhiều nơi. Ngày 15/5/1945, sau buổi lễ thống nhất tại Định Biên Thượng, Định Hóa, Thái Nguyên, đồng chí Võ Nguyên Giáp trở thành Tư lệnh các lực lượng vũ trang thống nhất, mang tên Việt Nam giải phóng quân. Trên cơ sở đánh giá thời cơ và tình hình cách mạng trong nước, Đảng ta đã lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đồng loại đứng dậy tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam giải phóng quân được đổi tên thành Vệ Quốc dân. Năm 1946, Vệ Quốc dân đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam.
Ngày 17 tháng 10 năm 1989, theo nguyện vọng của nhân dân trong cả nước, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VI) quyết định lấy ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944), đồng thời là Ngày hội Quốc phòng toàn dân.
Sáu mươi sáu năm qua, dưới sự lãnh đạo, giáo dục của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự đùm bọc của nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam đã không ngừng trưởng thành, càng đánh, càng mạnh, càng đánh càng thắng lớn, góp phần cùng toàn dân tạo nên những kỳ tích trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Nói đến nhân dân Việt Nam; Quân đội nhân dân Việt Nam chúng ta, bạn bè quốc tế không thể không nhắc đến Điện Biên Phủ (1954), kết thúc kháng chiến chống thực dân Pháp và Tổng tiến công Đại thắng mùa Xuân (1975) kết thúc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đưa đất nước ta thu về một mối, cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa. Tự hào và vinh dự biết bao khi Quân đội nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và Nhà nước khen ngợi: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do cho Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Nhân dân ta cũng ghi nhận và khen ngợi bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân bằng danh hiệu cao quý "Bộ đội Cụ Hồ", đó là: Trung thành vô hạn với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với Đảng, Nhà nước và nhân dân.Quyết chiến, quyết thắng, biết đánh và biết thắng. Gắn bó máu thịt với nhân dân, quân và dân một ý chí. Đoàn kết nội bộ, cán bộ, chiến sĩ bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, thương yêu giúp đỡ nhau, trên dưới đồng lòng, thống nhất ý chí và hành động. Kỷ luật tự giác nghiêm minh. Độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng quân đội, xây dựng đất nước, tôn trọng và bảo vệ của công. Lối sống trong sạch, lành mạnh, có văn hóa, trung thực, khiêm tốn, giản dị, lạc quan.Luôn luôn nêu cao tinh thần ham học, cầu tiến bộ. Đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, chí nghĩa, chí tình.
Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, đòi hỏi các lực lượng vũ trang nói chung và Quân đội nói riêng phải tiếp tục nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu; xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Do đó, cần quán triệt và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ Tổ quốc, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt nam phải góp phần tích cực cùng với toàn Đảng, toàn dân làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, chủ động đối phó thắng lợi với mọi tình huống có thể xảy ra. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước. Tiếp tục củng cố và hoàn thiện nền quốc phòng toàn dân trên từng địa bàn tỉnh, thành phố. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh. Đầu tư thỏa đáng cho công nghiệp quốc phòng. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra. Xây dựng Quân động nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ, sẵn sàng chiến đấu, phòng chống bão lụt, tìm kiếm cứu nạn… Tăng cường xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, bảo đảm cho Quân đội thống nhất cả về ý chí và hành động. Xây dựng Quân đội nhân dân có đời sống vật chất tinh thần tốt, quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả vũ khí trang bị kỹ thuật.
Kỷ niệm 66 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 21 năm ngày Hội Quốc phòng toàn dân là dịp để chúng ta ôn lại lịch sử, truyền thống vẻ vang, những chiến công oanh liệt của Quân đội và nhân dân ta. Qua đó, khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý chí quật cường, ý thức tự lực, tự cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách, ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới của cách mạng; góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
(Tư liệu: Quân đội nhân dân Việt Nam- Biên niên sự kiện- Viện LSQSVN- NXB QĐND-Hà nội 2004)
Nhớ lại một thời đã qua ! Phần 4
(Dự lễ kỷ niệm 66 ngày thành lập QĐNĐ VN và 21 năm ngày Quốc phòng toàn dân tại TP Nam Định)
(Các chiến hữu nhân ngày kỷ niệm)
Sau khi cơ động ra Kỳ Anh nghỉ ngơi sau chiến dịch đường 9 - Nam Lào, đầu tháng 6 năm 1971 tôi nhận quyết định đi học Trường Sĩ quan Lục quân 1. Đi học đợt này cả Tiểu đoàn 7 chúng tôi có 3 anh em. Vừa ở chiến trường ra lại được qua nhà nghỉ phép 15 ngày, sau đó lên trường tập trung để học, chúng tôi đứa nào cũng phấn khởi, khẩn trương làm công tác chuẩn bị để tiến quân ra Bắc. Sau hơn một năm vào chiến trường nay được về quê thăm nhà, anh em chúng tôi mừng lắm. Sau 3 ngày làm công tác chuẩn bị, thanh toán tiền ăn phiếu gạo, lấy giấy cung cấp tài chính, nhận hồ sơ giấy tờ, sáng sớm tinh mơ anh em chúng tôi đã có mặt tại thị trấn Voi thuộc Kỳ Anh để đón xe ra Vinh.
Hồi đó xe khách không có như bây giờ, chủ yếu là đón xe tải chở hàng vào chiến trường xong quay ra. Chỉ chờ khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ là ba anh en chúng tôi đã có mặt trên thùng của một chiếc zin-130. Quãng đường từ Kỳ Anh ra Vinh có 100 km mà chúng tôi đi mất gần 5 tiếng đồng hồ, chờ lâu nhất là phà Bến Thuỷ, đến 16 giờ cùng ngày chúng tôi đã có mặt ở ga Vinh.
Bây giờ, thay bến phà năm xưa, nay đã là chiếc cầu bê tong hiện đại. Trên cầu Bến Thuỷ ngày đêm có biết bao chuyến xe xuôi ngược ra Bắc vào Nam, có ai biết được chính đôi bờ sông Lam này đã từng có một đơn vị phà Bến Thuỷ trong trường kỳ chiến tranh ác liệt đã dũng cảm, mưu trí đưa hàng vạn chuyến phà qua sông, hàng trăm trận rà phá thuỷ lôi, bom từ trường để thông phà, thông xe, bao mồ hôi, xương máu đã đổ... góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975 lịch sử.
Ròng rã hơn 10 năm, từ năm 1964 đến năm 1975, hàng trăm cán bộ, chiến sỹ phà Bến Thuỷ - đơn vị được phong tặng hai lần Anh hùng đã không quản ngày đêm, vượt qua mưa bom bão đạn để đưa hàng vạn lượt xe hàng và bộ đội vào Nam chi viện cho tiền tuyến. Đặc biệt qua hai cuộc chiến tranh leo thang phá hoại của đế quốc Mỹ (từ 1964 đến năm 1973) họ vừa vận hành đưa phà qua sông vừa là những chiến binh cảm tử rà phá thuỷ lôi, bom từ trường trên sông Lam để thông phà. Nhiều người đã anh dũng hy sinh và bị thương nặng trong khi làm nhiệm vụ.
Chuyến tầu 19 giờ đã khởi hành từ thành phố Vinh đưa chúng tôi về Nam Định. Nếu đi xe ô tô gọi là nhanh thì đi bằng tầu hoả lại chậm chưa từng có. Nhìn chiếc đầu tầu hơi nước cũ kỹ có từ thời kỳ chống Pháp, ì ạch, phì phò, mệt nhọc, già cỗi kéo chúng tôi đi suốt 3 ngày đêm mới về đến ga Nam Định. Xuống ga Nam Định anh em chúng tôi vội vã chia tay nhau, mải miết đi bộ mỗi người một ngả ai về nhà nấy. Tôi bước chân về đến nhà thì kim đồng hồ đã chỉ 4 giờ sáng. Nghe tiếng gọi cửa của tôi, cả nhà tỉnh giấc, bà nội, mẹ và các em tôi mừng lắm. Mọi người nói tôi đen xạm, gầy, già và trên đầu có nhiều sợi tóc bạc. Biết tôi chưa ăn cơm, mẹ tôi tranh thủ luộc cho tôi ít mì sợi ăn với Xì dầu. Qua ba ngày ngồi trên tầu đói, tôi ăn rất ngon lành. Tôi có hỏi tình hình của anh cả, mẹ tôi nói từ khi nhập ngũ đi chiến trường B dài luôn, gia đình không nhận được tin tức gì. Mọi người đều xác định có khả năng anh trai tôi đã hy sinh trong chiến dịch Tây Nguyên-1972.
Mười lăm ngày phép trôi đi quá nhanh, tôi đã vội lên đường trở về trường để nhập học. Đó là những ngày cuối tháng 6 năm 1971, sau một năm hai tháng tôi nhập ngũ. Trường Sĩ quan Lục quân 1 nơi chúng tôi học nằm trên một khu đất rộng, thuộc thôn Triều Đông, xã Cổ Đông, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây, theo các anh cán bộ khung kể thì trường được xây dựng từ những năm 59-60 của thế kỷ trước tương đối chính quy so với thời đó, gọi là Công trường 50. Nếu như ở đơn vị chiến đấu, chúng tôi phải tự xây dựng lấy lán trại thì về đây chúng tôi được ở nhà xây cấp 4, ngủ giường 2 tầng, có điện chiếu sang đàng hoàng…thế là oách rồi.
Khoá học của chúng tôi là khoá 33, chúng tôi thường gọi là khoá con Rùa. Tiểu đoàn chúng tôi là Tiểu đoàn 4, là đơn vị đào tạo khoá học cơ bản đầu tiên với tiêu chuẩn: các học viên có tuổi đời từ 19 đến 23 đã trải qua chiến trường và có thành tích trong chiến đấu, văn hoá hết cấp III (hồi đó là hết lớp 10 phổ thông). Nhìn chung là chúng tôi là những thanh niên còn rất trẻ. Chương trình chúng tôi học là 3 năm, trong đó có 60% là binh chủng hợp thành còn lại 40% là chính trị và các binh chủng khác. Năm thứ nhất từ cá nhân đến cấp tiểu đội, trung đội. Năm thứ hai học hết cấp đại đội, năm thứ 3 học hết cấp tiểu đoàn.
Nói về rèn luyện, thời đó Sĩ quan Lục quân 1 là có tiếng, mọi người thường nói là “Trường sĩ quan luộc quân”. Học viên ở đây phải cắt tóc ngắn 3 phân. Thực hiện nghiêm chỉnh 11 chế độ trong ngày, 7 chế độ trong tuần. Những ai mà có bệnh tật, bảo đảm vào đây chỉ 1 năm là phòi ra hết, khoác ba lô về đơn vị luôn. Nhưng cũng chính nhờ có rèn luyện như vậy, nên khi ra trường người sĩ quan mới nhanh chóng làm quen với những vất vả gian khổ trên chiến trường.
Thời tiết ở Sơn Tây rất khắc nghiệt, chẳng thế mà người ta thường ví: “Nắng Sơn Tây, mây Ba Vì”. Đất ở đây là đất đồi, bên dưới toàn đá ong. Về mùa hè, ban ngày nắng nóng nảy lửa, nhưng ban đêm những đồi đá ong toả nhiệt nóng cũng không kém. Đang sống trong rừng mát mẻ, giờ sống dưới cái nóng như thế này mới thấy mệt. Ban ngày phải huấn luyện dưới trời nóng, đêm về cũng nóng, có những đêm phải dậy 1 đến 2 lần đi tắm. Thậm chí chúng tôi còn mang chiếu và màn ra giếng nhúng nước để mát cho dễ ngủ. Thế mà sáng ra tất cả đã khô cong như mo nang.
Mặc dù nhiệm vụ chính của chúng tôi là huấn luyện, nhưng khi có việc gì đột xuất chúng tôi sẵn sang cơ động giúp đỡ nhân dân địa phương. Tháng 8 năm 1971, đê Khê Thượng và cống Chuốc (Ba Vì) bị vỡ, gây lụt lớn ở một số vùng thuộc địa phận Sơn Tây. Tiểu đoàn chúng tôi tạm dừng huấn luyện, các phân đội học viên tham gia chống lụt ở Ba Vì và Phúc Thọ.
Ở Ba Vì chúng tôi cùng với các đơn vị bạn dãi nắng dầm mưa suốt từ sang đến thâu đêm, dốc mọi sức lực đóng cọc, chuyển đất, kè đá để ngăn dòng nước lũ. Nhiều phân đội trực tiếp làm việc ở những nơi xung yếu, công việc rất nặng nhọc và rất nguy hiểm, có đồng chí đang đóng cọc ở dưới nước, trượt chân bị nước cuốn trôi đi hang trăm mét. Sau 15 ngày đêm lao động quên mình, dòng nước hung dữ đã bị ngăn lại.
Ở Phúc Thọ, do phải xả lũ, một số làng bị ngập trắng. Bất chấp mọi nguy hiểm, cán bộ và học viên lặn lội suốt mấy ngày đêm. lần đến từng gia đình, từng xóm ngõ, kịp thời đưa các cụ già, em nhỏ và tài sản của nhân dân lên đê, vận chuyển hang trăm tấn lương thực của nhân dân đến nơi an toàn…
Thế rồi thời gian thấm thoát cũng trôi đi, cuối năm 1971 tình hình chiến trường miền Nam có nhiều sự thay đổi lớn. Ta tập chung lực lượng chuẩn bị cho cuộc Tiến công chiến lược năm 1972, tạo điều kiện thuận lợi cho ta trên bàn đàm phán tại hội nghị Pa ri, đồng thời địch cũng tích cực chuẩn bị lực lượng không quân đánh phá miền Bắc lần thứ 2. Tháng 12 năm 1971, chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, Tiểu đoàn 4 chúng tôi nhận lệnh cơ động lực lượng vào Thanh Hoá vừa huấn luyện, vừa sẵn sàng đánh địch khi chúng đổ bộ vào khu vực bờ biển Nga Sơn. Chúng tôi toàn hành quân ban đêm, từ Sơn Tây theo đường 32 về Đan Phượng, thành phố Hà Nội, theo đường số 1 qua Thường Tín, đến Đồng Văn chúng tôi rẽ theo đường đi Chi Lê, Xích Thổ, qua Nho Quan, về đến Thạch Thành chúng tôi rẽ xuống Quốc lộ số 1, vào đóng quân tại các làng: Phúc Điền, Vân Xá, Vân Yên, thuộc xã Hà Vân, Huyện Hà Trung. Tại đây, chúng tôi xây dựng hệ thống công sự trận địa; tổ chức diễn tập các phương án đánh địch từ thị trấn Nga Sơn về đến Bỉm Sơn và thị trấn Hà Trung. Ban ngày chúng tôi phân tán lực lượng để học tập chính trị và các khoa mục chung tránh máy bay địch đánh phá. Ban đêm chúng tôi bắt đầu luyện tập. Thời gian diễn tập ở đây của chúng tôi đến tháng 4 năm 1972. Cái tết thứ hai tôi xa nhà, nhưng khác với cái tết trước trên đường Trường Sơn, tết này chúng tôi được đón cùng với nhân dân địa phương cũng thật ấm cúng như ở gia đình mình vậy.
Để chuẩn bị cho chiến dịch tiến công Trị Thiên 1972, đồng thời đề phòng những hành động phiêu lưu của đế quốc Mỹ, ngày 9 tháng 4 năm 1972, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Trường sĩ quan Lục quân 1 tổ chức một sư đoàn dự bị mạnh sẵn sàng chiến đấu bảo vệ bắc Khu 4. Sư đoàn gồm có 3 tiểu đoàn học viên (3, 4, 9), một thời gian sau Tiểu đoàn 6 thay Tiểu đoàn 9 cùng với một số tiểu đoàn của Trường sĩ quan Hậu cần, Đại học Quân y, Trường sĩ quan Phòng không lấy phiên hiệu là Sư đoàn 312B. Tối hôm 9 tháng 4, đơn vị chúng tôi cơ động ra khu vực đồi Rừng Thông thuộc thị trấn Hà Trung, ở đó đã có ô tô chờ sẵn. Ô tô chở chúng tôi cơ động theo đường từ Hà Trung đi thành Nhà Hồ, theo đường dây 559 qua các địa danh dốc Bò Lăn giáp Thanh Hoá với Nghệ An, Chuông Bồn, Ngã 3 Đồng Lộc thuộc Hà Tĩnh, vào Quảng Liên Quảng Trạch tiếp tục đi ca nô vào Cự Nẫm, theo đường Đông Trường Sơn vào nông trường Việt Trung, Ba Dền thuộc tỉnh Quảng Bình, vào khu vực Bãi Hà, Vĩnh Linh thuộc tỉnh Quảng Trị. Trong quá trình hành quân để nghi binh địch, có những đoạn đường chúng tôi phải trở đi trở lại nhiều lần, đội hình đơn vị kéo dài. Hành quân dưới trời mưa liên tục, lại phải vượt qua những trọng điểm bắn phá ác liệt của địch, có đồng chí bị thương vong, nhưng chúng tôi đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt đến vị trí tập kết đúng thời gian quy định, làm lực lượng dự bị của Mặt trận Trị Thiên. Đến ngày 9 tháng 10 năm 1972, chúng tôi đã có mặt trên Cánh Đông của mặt trận Trị Thiên, tổ chức xây dựng trận địa phòng ngự và đẩy lùi các đợt hành quân lấn chiếm của chúng trên hướng Cửa Việt. Hiệp định Pari được ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, nhưng địch vẫn tiếp tục tổ chức các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng. Ngày 31 tháng 1 năm 1973 đơn vị chúng tôi cùng với đơn vị bạn tham gia trận phản đột kích Cửa Việt, đánh bại âm mưu lấn chiếm của chúng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, tháng 4 năm 1973 chúng tôi nhận được lệnh bàn giao lại trận địa cho đơn vị bạn, hành quân ra Bắc trở về trường tiếp tục học tập. Chúng tôi cơ động bằng ô tô liên tục, đến ngày 30 tháng 4 năm 1973 đã có mặt ở trường, kết thúc 1 năm thực tế tại chiến trường. Một chuyến đi thực tế trực tiếp chiến đấu ngoài chiến trường, anh em chúng tôi mọi người đều thấy mình trưởng thành hơn. Tuy nhiên, không có cuộc chiến đấu nào lại không có hy sinh, tổn thất; chúng tôi rất buồn khi hành quân quay lại trường tiếp tục học tập, quân số của đơn vị chúng tôi không còn được nguyên vẹn, một số đồng chí vĩnh viến nằm lại chiến trường; một số bị thương phải rời quân ngũ. Chiến tranh là vậy ! Người lính trong chiến tranh, cũng như trong hoà bình, họ sẵn sang hy sinh thân mình để hoàn thành nhiệm vụ khi Tổ quốc cần. Cũng chính mảnh đất này đã để lại trong tôi biết bao nhiêu những kỷ niệm một thời được sống và chiến đấu với những người con đất thép Quảng Trị anh hùng. Những cái tên Vĩnh Linh, Hải Lăng, Triệu Phong.... với tên những dòng sông Bến Hải, Thạch Hãn, Vĩnh Định...đã ghi đậm trong mỗi chúng tôi biết bao nhiêu kỷ niệm, suốt cuộc đời không bao giờ có thể lãng được.
(Còn nữa)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)